Nghị luận văn học - Một số điều lí thú từ hai bài thơ đường
Tảo phát Bạch Đế thành (Lý Bạch) và Thu hứng (Đỗ Phủ) là hai thi phẩm từ lâu đã trở thành quen thuộc với những người yêu thơ. Cả hai tác phẩm, một của “tiên thơ” và một của “thánh thơ” đều xứng đáng được xem là tinh hoa của thơ Đường và không phải ngẫu nhiên đều được tuyển chọn để giảng dạy chính thức trong nhà trường (không chỉ ở Trung Quốc, Việt Nam mà còn ở nhiều nước khác) có một điều đặc biệt lí thú là: hai thi phẩm tuy được viết bởi hai bút pháp rất khác nhau, thể hiện hai phong cách dường như tương phản nhau lại có cùng một chất liệu hiện thực, được xây dựng trên cùng một bối cảnh. Đó là bối cảnh của vùng “Tam Giáp” (tức ba kẽm: Tây Lăng, Cù Đường và Kẽm Vu) trên sông Trường Giang đoạn từ thành Bạch Đế (Tứ Xuyên) đến huyện Giang Lăng (Hồ Bắc).

Sách Thủy kinh chú của Lịch Đào Nguyên (thời Lục Triều) đã miêu tả vùng này như sau “suốt cả vùng Tam Giáp dài 700 dặm, núi liên tiếp đôi bờ, tuyệt không có một chỗ trông, vách đá điệp trùng che khuất cả bầu trời; chẳng thấy cả ánh sáng mặt trời lẫn ánh sáng trăng. Khi nước lớn tràn lên cả núi gò thì khó có thể đi ngược dòng còn truyền gấp lệnh vua thì sáng ra đi từ thành Bạch Đế tôi đã đến Giang Lăng... Mỗi khi trời vừa tạnh hay sáng sớm sương mù, nơi rừng lạnh khe vắng thường có vượn ở trên cao hú dài, tiếng thê thảm dị thường; hang trống truyền âm thanh bi ai mãi chẳng dứt. Cho nên, những người đánh cá có câu ca rằng: “Ba Đông Tam Giáp Vu Giáp trường / Viên minh tam thanh lệ triêm thường'” (Ba kẽm ở phía Đông đất Ba Thục thì Kẽm Vu dài nhất, vượn kêu ba tiếng đã làm cho lệ rơi đẫm áo xiêm). Xem thế đủ biết, cả hai thi phẩm đều chịu ảnh hưởng khá rõ của văn liệu này. Chính vì thế việc so sánh hai bài thơ trong quá trình dạy học sẽ mang lại cho chúng ta nhiều khám phá thú vị về phép “tả cảnh ngụ tình” của Đường thi. Bởi hai bài thơ tuy “đồng cảm” (cùng cảnh) nhưng thật “dị tình” (khác tình).
Như chúng ta đã biết, Tảo phát Bạch Đế thành (có sách chép là Bạch Đế hạ Giang Lang) được Lý Bạch sáng tác trong một hoàn cảnh đặc biệt: năm 755 An Lộc Sơn nổi loạn chiếm Trường An, Đường Huyền Tông bỏ chạy vào đất Thục (Tứ Xuyên) năm sau nhường ngôi cho. con là Túc Tông Lý Hanh. Lúc bỏ chạy, Huyền Tông có giao cho em của Túc Tông là Vĩnh Vương Lý Lân bảo vệ lưu vực sông Trường Giang. Năm 759, Lý Bạch ra nhập đội quân của Lý Lân, nhưng không may cho ông, Lý Lân bị nghi làm phản và ít lâu sau bị tiêu diệt. Lý Bạch bị bắt và bị đày đi Dạ Lang (miền đông tỉnh Quý Châu), nhưng vừa đến thành Bạch Đế thì được tha. Ong hết sức vui mừng liền sáng tác bài thơ này thể hiện cảm xúc sung sướng đang dâng trào của mình. Bài thơ từ lâu đã được xem là danh tác.
Phiên âm:
Triêu từ Bạch Đế thái vẫn gian,
Thiên lí Giang Lăng nhất nhật hoàn.
Lưỡng ngạn viên thanh đề bất trú.
Khinh chu dĩ quá vạn trùng san.
Tương Như dịch:
Sớm từ Bạch Đế rực ngàn mây
Muôn dặm Giang Lăng, tái một ngày
Vượn hót ven sông nghe rỉ rả
Thuyền qua muôn núi nhẹ như bay

Cùng đứng trên thành Bạch Đế ngắm nhìn sông nước Trường Giang với những ngọn núi hùng vĩ đôi bờ, cùng chịu ảnh hưởng từ văn liệu của Lịch Đào Nguyên, thế nhưng trái ngược với những hình ảnh hùng vĩ phóng khoáng trong thơ Lý Bạch, thiên nhiên vùng Tam Giáp hiện lên trong Thu hứng của Đô Phủ (bài thơ được sáng tác trong những năm lưu lạc cuối đời của nhà thơ), thật thảm đạm nặng nề. Thi phẩm từ lâu đã được xem là tiêu biểu cho hồn thơ trầm uất sâu lắng của Đỗ Phủ và được Nguyển Công Trứ dịch bằng những câu thơ tài hoa:
Lác đác rừng phong hạt móc sa.
Ngàn non hiu hắt, khí thu lòa.
Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm.
Mặt đất mây đùn cửa ải xa.
Khóm cúc tuôn thèm dòng lệ cũ.
Con thuyền buộc chặt mối tình nhà.
Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước
Thành Bạch, chày vang bóng ác tà.
Như vậy, chúng ta thấy, với cùng một nguồn gốc hiện thực và văn liệu nhưng với mỗi tâm trạng khác nhau, cảnh vật hiện lên trong mỗi bài thơ cũng thật khác nhau. Với niềm vui sướng của người vừa thoát tội, Lý Bạch chọn khoảng thời gian là buổi sớm mai tươi đẹp “Sáng từ Bạch Đế rực ngàn mây”. Ngược lại, với nỗi đau của ông già chạy loạn, Đỗ Phủ lại chọn khoảng thời gian là buổi chiều tà ảm đạm “Thành Bạch chày vang bóng ác tà”. Không gian trong Thu hứng như bị bao bọc bởi khí thu mù mịt, sóng rợn lưng trời, mây sa cửa ải; trái lại không gian trong Tảo phát... lại không ngừng được mở rộng theo cuộc hành trình “thiên lí”. Thành Bạch Đế vốn cao, song đối với Đỗ Phủ, nó lại càng làm cho tiếng chày đập áp thêm vang vọng não nùng: trái lại với Lý Bạch chiều cao của thành Bạch Đế càng làm cho hồn thơ được mở rộng bay bổng. Mây trên thành vốn dày, song với Đỗ Phủ nó như sa sầm mặt đất; trái lại với Lý Bạch đó là một cảnh đẹp rực rỡ Thái Vân gian (Giữa ngàn mây rực rỡ). Sóng nước Trường Giang vốn mạnh, với Đỗ Phủ, nó như muôn chiếm lấy cả bầu trời; còn đối với Lý Bạch đó lại là một thức “lực trời” giúp con thuyền của ông lao đi nhanh hơn. Đặc biệt là hình ảnh con thuyền; với ông già chạy loạn đó chỉ là một thứ “cô chu” (con thuyền cô đơn) buộc chặt lấy nỗi lòng hướng về nơi vườn cũ, còn với một trái tim hăm hở của kẻ vừa thoát tội đi đày, nó lại là một “khinh chu” (con thuyền nhẹ) dễ dàng vượt qua núi non ngàn dặm “khinh chu dĩ quá vạn trùng san”. Thật là những ẩn dụ tài tình thể hiện hai phong cách khác biệt.
Và như vậy, ở đây, “tâm cảnh” đã giữ vai trò chi phối tới “ngoại cảnh” hay nói một cách khác; mỗi nhà thơ với thế giới riêng của mình đã tìm được sự hợp nhất “thiên - nhân” không lặp lại. Đây cũng là một điểm đặc sắc trong nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình” của Đường thi nói riêng và thơ ca nói chung. Nhiều khi, có tới hàng chục, thậm chí hàng trăm bài thơ khác nhau cùng viết về một phong cảnh, cùng vịnh một sự vật. Thế nhưng, bằng tài năng của thi nhân mỗi thi phẩm vẫn có thể là một giá trị độc đáo, là cánh cửa để người đọc thâm nhập vào thê giới tinh thần riêng biệt của nhà thơ và đồng thời, qua đó cảm nhận được những dư ba khác nhau của tinh thần thời đại.






