Văn Mẫu Lớp 11
I. MỞ BÀI
Nguyễn Khuyến là một nhà thơ cổ điển lớn của dân tộc ta. Sáng tác của Nguyễn Khuyến diễn ra trên nhiều đề tài với những nội dung cảm xúc phong phú. Trong đó có một đề tài nổi bật là miêu tả cảnh sắc thiên nhiên làng quê, sinh hoạt của con người thôn quê.
Nguyễn Khuyến sinh ra và lớn lên ở một vùng quê yên ả. Trừ hơn 10 năm làm quan phải sống xa quê, còn lại phần lớn cuộc đời ông gắn bó với lũy tre làng Yên Đổ quê ông. Hình ảnh làng quê ấy đã in đậm trong thơ ông với những nét hết sức tiêu biểu và điển hình khiến Nguyễn Khuyến trở thành: “Nhà thơ... Việt Nam”
(...) Điểm xuất phát của cái nhìn là từ cảnh ao thu và chiếc thuyền câu. Tất nhiên nhà thơ đang ngồi trên chiếc thuyền câu trên ao nhưng hình ảnh con người lúc này ẩn kín, nhường cho khung cảnh thiên nhiên.
Nguyễn Khuyến nổi tiếng với chùm thơ ba bài viết về mùa thu Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm. Có lẽ Nguyễn Khuyên đã viết theo lối “chùm ba” của Đỗ Phủ (đại thi hào Trung Quốc này nổi tiếng với “Tam biệt”, “Tam lại”...).
(...) Mở đầu bài thơ bằng tiếng thở dài chán ngán (trường sa phục trường sa - hết bãi cát này lại đến bãi cát khác), sau đó mới đến lời giải thích tại sao lại đáng chán (đi một bước như lùi một bước). Rồi tiếp đến phía trước lại vẫn là bãi cát, tiếng thở dài bật ra (bãi cát dài, bãi cát dài, biết tính sao đây?).
(...) Lê Hữu Trác là một danh y nhưng có tư tưởng ẩn dật, lánh đời, không ham công danh phú quý. Cái nhìn của người ẩn dật được đôi mắt của ông chiếu vào quanh cảnh phủ chúa vốn là nơi cực kì sang giàu, phú quý
(...) Hai nhân vật chính là Chiêu Vũ và Thuận Nghĩa, được bố trí như hai tuyến đối lập theo công thức chung của văn học trung đại về thiện - ác, chính-tà. Chiêu Vũ có lòng nhân ái, quý trọng con người, có cơ mưu sâu sắc, hành động vì lợi ích chung của quân Nguyễn, biết nghe lời bàn bạc của mọi người
Sau khi được định tội, triều đình tạm tha cho Cao Bá Quát và cho đi xuất dương hiệu lực trong phái đoàn do Đào Phú Trí là trưởng đoàn, Trần Tú Dĩnh là phó đoàn. Ở triều Nguyễn, đối với một người có thể sử dụng mà không may mắc tội thì nhà vua thường tạm tha
I - VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ
Cao Bá Quát là một nhà thơ lớn, một tên tuổi sáng chói của văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỉ XIX. ông nổi tiếng bởi nhân cách cứng cỏi, ngang tàng và văn tài sắc sảo, mới mẻ. Thơ ông có thể ví là cây đàn đa điệu hết sức phong phú về nội dung cảm hứng.
Khi đã nghỉ hưu ở quê nhà, Nguyễn Công Trứ viết Bài ca ngất ngưởng thể hiện phong cách sống của ông. Đây là triết lí sống trong suốt cuộc đời, khi còn là một thư sinh, khi xuất chính hay lúc đã về hưu của ông.
Hai câu đầu, một câu tả cảnh, một câu tả người. Mối quan hệ giữa cảnh và tình cần được chú ý. Không gian là đêm khuya thanh vắng, tiếng trống cầm canh vang lên như tăng thêm sự vắng lặng, tô đậm trạng thái cô đơn của Xuân Hương.
1. MỞ BÀI
- Vị trí bài Vãn tế nghĩa sĩ cần Giuộc trong cuộc đời và trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Đình Chiểu.
- Giới thiệu ý kiến của đồng chí Phạm Văn Đồng.
2. THÂN BÀI
- Thân phận, tình huống éo le của người nghĩa quân cần Giuộc.
...Trong sự nghiệp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, phần thơ văn yêu nước chống Pháp đáng quý hơn cả. ở đây, Nguyễn Đình Chiểu trực tiếp bộc lộ trái tim mình. Đó là một trái tim vĩ đại. Trái tim ấy đầy ắp dòng máu yêu nước, thương nòi, kiên cường, bất khuất của dân tộc.
Nguyễn Đình Chiểu là một nhà Nho yêu nước cuối thế kỉ XIX. Cuộc đời của ông đầy những bất hạnh. Nhưng bằng nghị lực phi thường, ông trở thành tấm gương sáng về nhiều mặt... “Với Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã đựng lên bức tượng đài bi tráng về người nông dân nghĩa sĩ đánh Pháp cuối thế kỉ XIX”
“Chết là hết”, người đời thường nói vậy. Và cuối cùng ai cũng phải chết. Nhưng có những cái chết “không một tiếng vang”', lại có những cái chết để “tiếng thơm muon thuở”. Người nghĩa sĩ cần Giuộc năm xưa đứng dậy chống Pháp đã lựa chọn cái chết thật đẹp: “Thác mà... Thác mộ”