Văn Mẫu Lớp 11
Các ý chính:
1. Tống biệt hành của Thâm Tâm (1940) mặc dù là một đề tài quen thuộc nhưng có một sự ám ảnh rất lạ không phải chỉ ở điệu thơ, ngôn ngữ mà ở tinh thần thời đại, đặc biệt ở hình ảnh vừa truyền thống vừa mới mẻ của người ra đi.
I. MỞ BÀI
Như tên của thi phẩm Tống biệt hành viết về một cuộc chia tay dứt khoát nhuốm màu vĩnh biệt. Cuộc chia tay đặc biệt ấy sẽ có những tình cảm rất đặc biệt. Trong bài thơ, người được tiễn biệt là một tráng sĩ ôm chí lớn lên đường và người đưa tiễn là một tri kỉ tri âm...
Bức ảnh phong cảnh Huế mà Hoàng Cúc gửi tặng Hàn Mặc Tử có mấy lời như sau: “Túc hạ có được khỏe không? Bao giờ túc hạ thư thả mời túc hạ về Vĩ Dạ chơi”. Từ đó có thể hiểu “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” là câu hỏi nhưng lại gợi cảm giác như lời trách nhẹ nhàng và cũng là lời mời gọi thật tha thiết
1. Giới thiệu về tác giả và tác phẩm:
- Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào Thơ mới. Ông đã để lại một số bài thơ đặc sắc, nhất là những bài thơ viết về thiên nhiên, đất nước, con người. Trong số đó, Đây thôn Vĩ Dạ là một ví dụ tiêu biểu.
A - Bài Đây thôn Vĩ Dạ ra đời có nguyên cớ sâu xa từ những kỉ niệm của Hàn Mặc Tử về cảnh Huế và con người Huế, ông đã tùng học ở Huế. Khi làm việc ở Quy Nhơn, ông có quen biết một người con gái Huế là Hoàng Cúc.
Sau một cuộc sống ngắn ngủi và không mấy may mắn, Hàn Mặc Tử để lại cho thơ Việt Nam một số lượng tác phàm không nhỏ, trong đó có những bài thơ, người này say mê thì người kia không thích.
1. Giới thiệu chung về Hàn Mặc Tử và bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ. Xuất xứ khổ thơ bình giảng.
2. Bốn câu thơ bình giảng rất giàu tính tạo hình, như một bức tranh có chiều rộng, có chiều cao. Câu đầu như lời mời, lại như lời trách yêu.
1. Giới thiệu bài thơ và vị trí của đoạn thơ cần bình giảng.
a) Đây thôn Vĩ Dạ rút trong tập Thơ điên của Hàn Mặc Tử Bài thơ được sáng tác sau khi Hàn Mặc Tử nhận được tấm hình chụp phong cảnh thôn Vĩ Dạ bên bờ sông Hương của Hoàng Cúc. Và đó cũng là luc nhà thơ biết mình đã lâm bệnh hiểm nghèo
1. Không hẳn là bức tranh phong cảnh, nhưng thiên nhiên trong Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử rất đẹp, rất hũu tình qua cái nhìn giàu thi vị của nhà thơ.
2. Cảnh đất trời rạng rỡ: nắng sớm long lanh trên những hàng cau còn đẫm sương đêm.
Hòa vào không gian mượt mà tươi non là con người chất phác đôn hậu.
Trong số các thi sĩ Việt Nam hiện đại, Hàn Mặc Tử là người khổ nhất. Tạo hóa vốn rộng lượng, nhưng không hay đãi đăng khách ván chương. Nhà thơ chỉ sống vẻn vẹn 28 năm (1912-1940). 28 năm của một đời người, sao lại lắm truân chuyên khổ ải?
Thời gian vừa qua, bài thơ lãng mạn gây ra nhiều nhận định bất đồng, thậm chí đối lập nhất là khi phân tích, bình giảng 12 câu Đây thôn Vĩ Dạ. Nguyên nhân sự hạn chế của một số bài viết có nhiều.
Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chói lọi diệu kì trong vòm trời rực rỡ lấp lánh nhiều tinh tú lạ. Thơ Hàn vừa thể hiện tình yêu khôn cùng với cuộc sống trần tục, vừa hướng về Chúa Trời với những niềm thanh khí thần tiên.
I. MỞ BÀI
- Đặc điểm bao trùm của tâm hồn thơ Huy Cận thời Lửa thiêng (1938): trĩu nặng sầu buồn. Vị trí của bài Tràng giang trong thơ Huy Cận thời kì ấy.
- Giới thiệu khổ thơ kết thúc Tràng giang. Khẳng định ý nghĩa quan trọng của nó trong toàn bài thơ.
Tràng giang là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của Huy Cận “hầu như trở thành cổ điển” (Xuân Diệu). Cảm hứng của bài thơ được gợi mở từ một buổi chiều mùa thu năm 1939, khi tác giả đứng ở bờ nam bến Chèm nhìn cảnh sông Hồng mênh mang sóng nước và nghĩ về kiếp người thật bé nhỏ
I. MỞ BÀI
+ Tính phổ biến của tâm trạng cô đơn ở con người khi đối diện với không gian rợn ngợp.
+ Xác định cảm xúc chủ đạo của Tràng giang là lòng yêu thiên nhiên, tạo vật.
II. THÂN BÀI
a) Tâm trạng “băng khuâng trời rộng nhớ sông dài”
+ Hình ảnh thiên nhiên và tâm trạng bơ vơ lạc loài.