Văn Mẫu Lớp 11
Cũng như các nhà thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp, Huy Cận chọn cho mình đề tài vũ trụ, về không gian bao la. Có điều vũ trụ không gian trong thơ ông thường đượm nỗi buồn, gay cảm giác bâng khuâng cho người đọc.
1.1 Chỉ yêu cầu liệt kê (không phân tích) hai loại hình ảnh thơ gợi lên cảm xúc về:
a) Cái bé nhỏ, bơ vơ, cô đơn, lạc lõng của con người:
- Con thuyền, - cành củi khô, - cồn nhỏ gió đìu hiu, - tiếng vãn chợ chiều,
Các ý chính:
1. Giới thiệu khái quát về bài thơ Tràng giang và Huy Cận. Vị trí đoạn thơ bình giảng.
2. Hai câu đầu mang phong vị Đường thi. “Tràng giang” là sông lớn, rộng, bao gồm cả “trường giang” (dài). Một dòng sông lớn, mênh mông xa vắng, “sóng gợn” “buồn điệp điệp”.
Ý chính cần có:
1. Giới thiệu chung về Tràng giang. Bài thơ tả cảnh thiên nhiên nhưng tác giả gửi gắm vào một tấm lòng tha thiết với quê hương đất nước. Ở đây cũng thấy rõ cảm quan vũ trụ, cảm giác cô liêu trước cái vô tận vô cùng của trời đất.
- Đoạn thơ là hai khổ đầu của bài Tràng giang, một trong những bài tiêu biểu cho thơ Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám 1945.- Bài thơ rút trong tập Lửa thiêng, tập thơ đầu tay của Huy Cận, sáng tác khoảng 1937 - 1940. Tập thơ đã khẳng định vị trí của Huy Cận trong phong trào Thơ mới ở thời kì phát triển.
Tràng giang là một bài thơ có vẻ đẹp cổ điển, vẻ đẹp này thể hiện ở nhiều phương diện, trước hết có lẽ là ở thể thơ thất ngôn (bảy chữ), chủ yếu với cách ngắt nhịp quen thuộc, tạo nên sự cân đối, hài hòa.
Phong cảnh thiên nhiên trong bài Tràng giang thật là đẹp, hùng vĩ nhưng lại có nét đìu hiu, quạnh quẽ, và được phác họa một cách đơn sơ, rất gần với cách miêu tả thiên nhiên trong các bài thơ cổ điển.
1. Mở bài
Tràng giang là một bài thơ nổi tiếng không chỉ của Huy Cận mà còn của cả phong trào Thơ mới (1932 - 1945). Bài thơ gồm bốn khổ, đây là khổ cuối cùng. Tuy có bốn dòng thơ nhưng khổ thơ đã khái quát tấm lòng, khuynh hướng tư tưởng của nhà thơ cũng như bút pháp nghệ thuật của ông
Các ý chính:
Tràng giang là bài thơ tiêu biểu của Huy Cận và của thơ ca Việt Nam thời kì Thơ mới 1932 - 1945. Tràng giang là con sông đẹp và buồn. Hai nét cùng kết hợp hài hòa với nhau trong từng chi tiết, hình ảnh của bài thơ.
Tác giả bài Tràng giang tỏ ý phiền lòng khi thấy có một chữ trong bài thơ của mình tái bản mười lần thì đến chín thường in sai: “Hai chữ dợn dợn của tôi thường bị đọc sai in thành dờn dợn, như thế chẳng có ý nghĩa gì”
Huy Cận là một nhà thơ mới nổi tiếng trước Cách mạng tháng Tám. Khi bàn về cái đa dạng trong thơ mới, nhà phê bình Hoài Thanh từng nhận định về ông là “ảo não như Huy Cận”. Thật vậy, tác giả Lửa thiêng thường cảm nhận sự cô đơn lạnh lẽo và buồn bã trong một không gian bao la trống trải
Xuất hiện vào giai đoạn toàn thịnh của phong trào Thơ mới, Huy Cận là một trong những thi sĩ có công lao đưa phong trào này lên đỉnh cao. ở độ chín nhất, phong cách thơ Huy Cận có sự kết hợp nhuần nhuyễn những yếu tố cổ điển, nhất là cỗ điển Đường thi, với yếu tố thơ mới.
Nền thơ 1930 - 1945 đã đóng góp cho thi đàn văn học Việt Nam nhiều phong cách độc đáo. Nếu ta theo Thế Lữ vào giấc mơ tiên của Lưu Trọng Lư vào cuộc đời bất tận theo các sôi nổi cuống quýt của Xuân Diệu “muốn cắn trái xuân hồng” thì ta cũng có thể theo Huy Cận đi vào bể sầu nhân thế
Tràng giang là một bài thơ tiêu biểu của Huy Cận trước cách mạng. Nó thể hiện một nỗi buồn thấm thía tới tận đáy hồn nhân thế của Thơ mới. Lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” cho thấy nỗi buồn ở đây mang tầm vóc vũ trụ và cảm hứng về không gian sẽ là cảm hứng chủ đạo chi phối hồn thơ trong bài này.
Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu:
Một nền đồng tước khóa xuân hai kiều
Câu thơ ấy, Nguyễn Du đã dịch sát câu thơ Đường của Đỗ Mục:
Đổng tước xuân thâm tỏa nhị kiều
Trong truyện ngắn Tỏa nhị Kiều của Xuân Diệu, hai kiều không phải là Đại Kiều