Đã hơn ba mươi năm rồi, kể từ ngày Bác Hồ vĩnh biệt chúng ta đi vào cõi vĩnh hằng. Hơn ba mươi năm đó là cả một quãng thời gian dài, đã làm cho bao mái đầu xanh ngả bạc, bao em thơ khôn lớn thành người, ba mươi năm đã để làm người ta quên đi một con người.
1. Năm 1942, Bác Hồ sang Trung Quốc. Bác bị bọn phản động Quốc dân Đảng bắt. Chúng giải Bác suốt 13 huyện của tỉnh Quang Tây, giải tới giải lui khắp 18 nhà lao. Có ngày Bác phải đi trên 50 cây số trong mưa gió:
Năm mươi ba cây số một ngày,
...
Ngồi trên hố xí đợi ngày mai.
1. Nhật kí trong tù có nhiều bài thơ viết về buổi chiều. Khoảng thời gian cuối cùng ấy đã trở thành thi hứng cho nhiều bài thơ của Hồ Chí Minh. Chúng ta gặp ở đay một chiều gió lạnh của buổi hoàng hôn với tiếng chuông chùa, tiếng sáo bay giục người nhanh chân bước (Hoàng hôn).
1. Giới thiệu tập thơ Nhật kí trong tù
Nhật kí trong tù, là tập thơ viết bằng chữ Hán của Hồ Chí Minh trong thời kì Người bị giam giữ ở nhà lao của bọn Tưởng Giới Thạch từ tháng 8- 1942 đến tháng 9-1943?
HỮNG Ý CHÍNH
1. So sánh hình ảnh buổi chiều trong bài Mộ (Hồ Chí Minh) và trong khổ cuối bài thơ Tràng giang (Huy Cận):
Giống nhau:
+ Đều dùng thi liệu cổ điển phương Đông: cánh chim chiều, mây (chòm mây, núi mây).
+ Đều đượm buồn, vắng lặng, cô đơn.
+ Đều mượn cảnh để bộc lộ tâm trạng.
1. Các yếu tố cổ điển và hiện đại trong bài Mộ:
- Yếu tố cổ điển: Dùng thi liệu phương Đông (cánh chim bay về rừng, chòm mây trôi trên bầu trời), dùng bút pháp chấm phá bằng hai nét vẽ để dựng lên cảnh chiều muộn như trong một bức tranh thủy mặc (có hồn và thấm đượm tình người).
Có hai yêu cầu:
Yêu cầu 1: Phận tích bài Mộ theo hướng làm rõ nhận xét đã nêu trong đề.
1. Mộ cũng như mọi bài thơ khác của Nhật kí trong tù là thơ nhật kí. Nó thuộc mảng thơ viết về những lần chuyển ngục, tức là nhũng lần Bác bị giải đi từ nhà lao này sang nhà lao khác.
- Bài thơ được viết trên hành trình bị áp giải, không gian và thời gian, cảnh vật đặc biệt nên gợi cho người đọc nhiều suy nghĩ, cảm xúc.
1. Mở đầu bài thơ, không gian và thời gian thoạt nhìn tưởng như cũ và ước lệ thường thấy trong thơ xưa.
Trước hết cần nêu hoàn cảnh của tác giả - nhân vật trữ tình thứ nhất, đang là người tù chân bị xích, tay bị trói, bí giải đi qua bao dặm đường, đến đây gặp cảnh chiều tối, mỏi mệt, rã rời, lại có được cái nhìn và tâm trạng như trông bài thơ.
I. MỞ BÀI
Tự do là điều đáng quý nhất, là lẽ sống cao đẹp của mỗi con người. Nhưng tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể mà sự cảm nhận về tự do của mỗi người có thể mang những sắc thái khác nhau. Trong những ngày bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam cầm,
1. Đọc Nhật kí trong tù ta gặp một tấm lòng yêu thương mênh mông, một ý chí chiến sĩ kiên cường và ta cũng gặp ở đây một nôi lòng vời vợi với tự do. Đó là nỗi lòng của một con người cảm nhận cay đắng vì mất tự do.
1. Khái niệm chất thép
a. Khái niệm chất thép: Chất thép là một hình ảnh ẩn dụ, được Bác dùng chỉ tính chiến đấu, chỉ tinh thần, tình cảm cách mạng, tinh thần chiến đấu. Đó là nghị lực kiên cường vượt qua mọi khó khăn thử thách, là phong thái ung dung tụ' chủ, lạc quan tin tưởng hướng về tương lai...
1. MỞ BÀI
+ Đối với một người có tâm hồn thiết tha yêu cái đẹp, yêu cuộc sống như Bác Hồ, thiên nhiên không chỉ là một đối tượng miêu tả quan trọng mà còn là phương tiện biểu hiện tâm tình. Nhiều khi, thiên nhiên đã trở thành người bạn tâm tình hết sức thân thiết của Bác.
Bác Hồ có tình yêu mênh mông với thiên nhiên, với cuộc sống, với Đất Nước non sông. Nhưng cảm động và sâu sắc hơn cả vẫn là tình yêu thương con người. Nói như Hoài Thanh: “Cái ảnh sáng tỏa ra từ tâm hồn Bác qua những trang thơ của Bác trước hết là ánh sáng của tình thương người”.
Trong các nhà thơ mới, Nguyễn Bính được xem là tiếng thơ “quen nhất”, vì thơ ông vừa là tiếng nói của thời đại mới lại vừa như đã có sẵn đâu đó trong dân gian bao đời rồi. Nói cách khác, Nguyễn Bính đã tích hợp và phát huy một cách xuất sắc những truyền thống dân gian trong sáng tạo thơ mới