Phân tích tác phẩm “Luận về chính học cùng tà thuyết Quốc Văn - Kim Vân Kiều - Nguyễn Du” của Ngô Đức Kế

Giá trị của một tác phẩm văn chương bạo giờ cũng gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của một dân tộc, một đất nước, ở thời đại của Ngô Đức Kế, nước ta bị đô hộ, việc đề cao Truyện Kiều là thầm kín bộc lộ tình cảm yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nhưng Truyện Kiều không phải là tất cả, trên tất cả là cuộc sống của đồng bào

Hãy lí giải sự khác nhau về cách kết thúc truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao và Vợ nhặt của Kim Lân

GỢI Ý LÀM BÀI I. ĐẶT VẤN ĐỀ - Nam Cao và Kim Lân là hai nhà văn rất thành công trong thể loại truyện ngắn. Nam Cao tập trung vào hai đề tài chính là người trí thức nghèo và người nông dân nghèo. Ở cả hai đề tài ông đều có những tác phẩm xuất sắc.

Cảm nhận về nhân vật người “vợ nhặt” trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

CÁC Ý CHÍNH Nhân vật người vợ nhặt: “Thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”. “... cái ngực gãy lép nhô hẳn lên, nén một tiếng thở dài...”, sức sống héo hon, tàn tạ... có lẽ vì đói!

Cảm nhận về nạn đói và suy nghĩ về nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

CÁC Ý CHÍNH Như nhiều tác phẩm trước đó viết về nạn đói, ngòi bút Kim Lân chứa chan thương cảm trước những số phận lương thiện và cùng khổ. Ông không dành ra nhiều trang viết mô tả kĩ hiện thực tàn khốc lúc bấy giờ - người chết đói như ngả rạ - mà chú tâm thể hiện vẻ đẹp tinh thần ẩn giấu trong cái bề ngoài xác xơ vì đói khát của những người nghèo khổ.

Nhà giáo Trần Đồng Minh nhận xét về tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân: “Nhà văn dùng Vợ nhặt làm cái đòn bẩy để nâng con người lên trong tình nhân ái. Câu...

Khi đứng trên bờ vực giữa sự sống và cái chết, phẩm chất, con người bộc lộ một cách chân thật nhất. Dựa vào yếu tố ấy cùng với bối cảnh nạn đói khủng khiếp năm 1945, ngòi bút Kim Lân đã cho nhân vật của mình đứng trên lằn ranh sống - chết để nói lên bao thông điệp hết sức sâu sắc.

Đặc điểm của tư tưởng nhân đạo trong Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 nhìn từ hai truyện ngắn tiêu biểu: Vợ nhặt của Kim Lân và Vợ chồng A Phủ...

Với dạng đề mở này, học sinh có thể chủ động lựa chọn phương thức biểu đạt, các thao tác lập luận... và dung lượng kiến thức đưa vào bài, miễn sao bài viết làm nổi bật vấn đề được đề cập trong đề bài và có sức thuyết phục. Hướng tới yêu cầu đó, ở đề bài này, bài viết nên làm rõ những nội dung sau:

Phân tích đoạn trích Thư gửi Chính phủ bảo hộ của Phan Châu Trinh

Phan Châu Trinh chủ trương cứu nước bằng mọi cách lợi dụng thực dân Pháp, hủy bỏ chế độ Nam triều, cải cách đổi mới mọi mặt, làm cho dân giàu nước mạnh, trên cơ sở đó tạo nền độc lập quốc gia.

Phân tích đoạn trích Ngục Kom Tum (Trích Ngục Kom Tum của Lê Văn Hiến)

Ngày 12 - 12 - 1931, bọn thực dân tiến hành đợt hai của kế hoạch bắt tù nhân lên Đắc Plao làm đường. Tên đội Mu-léc đem sổ vào kêu mọi người đi làm, trừ 40 người có tên ở lại. Anh em hiểu ý ngay ý đồ thâm độc của bọn thực dân nên đồng thanh la hét nhất định không đi.

Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Tâm tư trong tù của Tố Hữu: Cô đơn thay là cảnh thân tù! ... Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về...

1. Bài thơ Tâm tư trong tù ghi lại những cảm xúc, những ấn tượng mạnh mẽ và diễn biến tâm trạng của tác giả - người chiến sĩ cách mạng trong những ngày đầu tiên bị giam giữ trong nhà tù thực dân Pháp vào cuối tháng 4 - 1939.

Bình giảng đoạn thơ: Cô đơn thay là cảnh thân tù! ... Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về...

1. MỞ BÀI 2. THÂN BÀI + Bốn câu đầu: - Bốn câu này chủ động lặp lại nguyên văn bốn câu trong khổ thơ thứ nhất và được coi như một điệp khúc nhấn mạnh cảm giác đầu tiên của người tù là nỗi cô đơn vô hạn: “Cô đơn... thân tù”

Phân tích tâm trạng của Tố Hữu trong bài thơ Tâm tư trong tù

I. MỞ BÀI Bài thơ Tâm tư trong tù được Tố Hữu sáng tác trong thời gian ông bị kẻ thù bắt giam tại xà lim hoàn toàn cách biệt với cuộc sống bên ngoài ở nhà lao Thừa Thiên. Đối với một thanh niên mới mười chín tuổi vừa được giác ngộ cách mạng,

Viết một đoạn văn hình dung hoàn cảnh và tâm trạng của Tố Hữu khi viết bài thơ Từ ấy

Một ngày đẹp trời cuối mùa hè năm 1938. Trời cao xanh, nắng vàng tươi rực rỡ chảy tràn trên xứ Huế, mảnh đất cố đô xưa. Trong một khu vườn xum xuê cây lá, nghe rõ tiếng xào xạc của gió và âm thanh ríu rít của bầy chim nhỏ trên ngọn cây cao

Trong bài thơ Từ ấy xuất hiện một loạt từ chỉ số lượng nhiều: mọi người, trăm nơi, bao hồn khổ, khối đời, vạn nhà, vạn kiếp phôi pha, vạn đầu em nhỏ,...

Sự xuất hiện hàng loạt những từ chỉ số lượng nhiều: mọi người, trăm nơi, bao hồn khổ, khối đời (khối người đồng đảo trong cõi đời), vạn nhà, vạn kiếp phôi pha, vạn đầu em nhỏ,... đều có một ý nghĩa chung - đó là quần chúng nhân dân, là cộng đồng dân tộc.

Viết đoạn văn phân tích khổ thơ đầu trong bài Từ ấy của Tố Hữu

Tố Hữu đã diễn tả rất chân thành niềm vui sướng, say mê của mình khi bắt gặp lí tưởng của Đảng: Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ ... Rất đậm hương và rộn tiếng chim... Tháng 7 - 1983, Tố Hữu được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, cái mốc “Từ ấy” chính là đánh dấu thời điểm đó.

Viết đoạn văn ngắn giới thiệu bài thơ Từ ấy của Tố Hữu

Bài thơ Từ ấy trích từ tập thơ đầu tay của Tố Hữu. Tập thơ gồm ba phần: Máu lửa, Xiềng xích, và Giải phóng, phản ánh ba chặng đường đấu tranh và trưởng thành của nhà thơ từ khi giác ngộ lí tưởng đến Cách mạng tháng Tám 1945.