1. Không hẳn là bức tranh phong cảnh, nhưng thiên nhiên trong Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử rất đẹp, rất hũu tình qua cái nhìn giàu thi vị của nhà thơ.
2. Cảnh đất trời rạng rỡ: nắng sớm long lanh trên những hàng cau còn đẫm sương đêm.
Hòa vào không gian mượt mà tươi non là con người chất phác đôn hậu.
Trong số các thi sĩ Việt Nam hiện đại, Hàn Mặc Tử là người khổ nhất. Tạo hóa vốn rộng lượng, nhưng không hay đãi đăng khách ván chương. Nhà thơ chỉ sống vẻn vẹn 28 năm (1912-1940). 28 năm của một đời người, sao lại lắm truân chuyên khổ ải?
Thời gian vừa qua, bài thơ lãng mạn gây ra nhiều nhận định bất đồng, thậm chí đối lập nhất là khi phân tích, bình giảng 12 câu Đây thôn Vĩ Dạ. Nguyên nhân sự hạn chế của một số bài viết có nhiều.
Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chói lọi diệu kì trong vòm trời rực rỡ lấp lánh nhiều tinh tú lạ. Thơ Hàn vừa thể hiện tình yêu khôn cùng với cuộc sống trần tục, vừa hướng về Chúa Trời với những niềm thanh khí thần tiên.
I. MỞ BÀI
- Đặc điểm bao trùm của tâm hồn thơ Huy Cận thời Lửa thiêng (1938): trĩu nặng sầu buồn. Vị trí của bài Tràng giang trong thơ Huy Cận thời kì ấy.
- Giới thiệu khổ thơ kết thúc Tràng giang. Khẳng định ý nghĩa quan trọng của nó trong toàn bài thơ.
Tràng giang là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của Huy Cận “hầu như trở thành cổ điển” (Xuân Diệu). Cảm hứng của bài thơ được gợi mở từ một buổi chiều mùa thu năm 1939, khi tác giả đứng ở bờ nam bến Chèm nhìn cảnh sông Hồng mênh mang sóng nước và nghĩ về kiếp người thật bé nhỏ
I. MỞ BÀI
+ Tính phổ biến của tâm trạng cô đơn ở con người khi đối diện với không gian rợn ngợp.
+ Xác định cảm xúc chủ đạo của Tràng giang là lòng yêu thiên nhiên, tạo vật.
II. THÂN BÀI
a) Tâm trạng “băng khuâng trời rộng nhớ sông dài”
+ Hình ảnh thiên nhiên và tâm trạng bơ vơ lạc loài.
Cũng như các nhà thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp, Huy Cận chọn cho mình đề tài vũ trụ, về không gian bao la. Có điều vũ trụ không gian trong thơ ông thường đượm nỗi buồn, gay cảm giác bâng khuâng cho người đọc.
1.1 Chỉ yêu cầu liệt kê (không phân tích) hai loại hình ảnh thơ gợi lên cảm xúc về:
a) Cái bé nhỏ, bơ vơ, cô đơn, lạc lõng của con người:
- Con thuyền, - cành củi khô, - cồn nhỏ gió đìu hiu, - tiếng vãn chợ chiều,
Các ý chính:
1. Giới thiệu khái quát về bài thơ Tràng giang và Huy Cận. Vị trí đoạn thơ bình giảng.
2. Hai câu đầu mang phong vị Đường thi. “Tràng giang” là sông lớn, rộng, bao gồm cả “trường giang” (dài). Một dòng sông lớn, mênh mông xa vắng, “sóng gợn” “buồn điệp điệp”.
Ý chính cần có:
1. Giới thiệu chung về Tràng giang. Bài thơ tả cảnh thiên nhiên nhưng tác giả gửi gắm vào một tấm lòng tha thiết với quê hương đất nước. Ở đây cũng thấy rõ cảm quan vũ trụ, cảm giác cô liêu trước cái vô tận vô cùng của trời đất.
- Đoạn thơ là hai khổ đầu của bài Tràng giang, một trong những bài tiêu biểu cho thơ Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám 1945.- Bài thơ rút trong tập Lửa thiêng, tập thơ đầu tay của Huy Cận, sáng tác khoảng 1937 - 1940. Tập thơ đã khẳng định vị trí của Huy Cận trong phong trào Thơ mới ở thời kì phát triển.
Tràng giang là một bài thơ có vẻ đẹp cổ điển, vẻ đẹp này thể hiện ở nhiều phương diện, trước hết có lẽ là ở thể thơ thất ngôn (bảy chữ), chủ yếu với cách ngắt nhịp quen thuộc, tạo nên sự cân đối, hài hòa.
Phong cảnh thiên nhiên trong bài Tràng giang thật là đẹp, hùng vĩ nhưng lại có nét đìu hiu, quạnh quẽ, và được phác họa một cách đơn sơ, rất gần với cách miêu tả thiên nhiên trong các bài thơ cổ điển.
1. Mở bài
Tràng giang là một bài thơ nổi tiếng không chỉ của Huy Cận mà còn của cả phong trào Thơ mới (1932 - 1945). Bài thơ gồm bốn khổ, đây là khổ cuối cùng. Tuy có bốn dòng thơ nhưng khổ thơ đã khái quát tấm lòng, khuynh hướng tư tưởng của nhà thơ cũng như bút pháp nghệ thuật của ông