- Nhà văn Kim Lân (1920 - 2007) quê ở Bắc Ninh, chỉ được học hết tiểu học rồi đi làm thợ. Nhưng Kim Lân đã đến với văn chương - nghệ thuật bằng sự thiên bẩm, bằng con đường cách mạng. Nhà văn Nguyên Hồng nói về ông:
Kim Lân một lòng đi về với đất, với người, với những thuần hậu nguyên thuỷ của con người Việt Nam".
Kim Lân tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, người làng Phù Lưu, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Vì gia đình khó khăn, ông chưa được học hết bậc Tiểu học. Nhưng ông là người Kinh Bắc, là con đẻ của nền văn hoá Kinh Bắc có bề dày lịch sử lâu đời, nên rất đỗi tài hoa. Kim Lân có biệt tài viết truyện ngắn. Ông chủ yếu viết về nông thôn và người nông dân.
Kim Trọng, Thúc Sinh và Từ Hải là ba nhân vật đã gắn bó với số phận và đời sống tình cảm của Thúy Kiều. Mối tình Kim - Kiều là mối tình đầu tuyệt đẹp giữa “Người quốc sắc, kẻ thiên tài", đã nặng tình thề nguyền '''Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương"
Kim Trọng là một trong ba nhân vật đẹp nhất trong “Truyện Kiều" thể hiện cảm hứng nhân văn về tình yêu tự do giữa đôi lứa “Người quốc sắc, kẻ thiên tài". Kiều gặp Kim Trọng, Kiều - Kim tình tự, thề nguyền, Kim Trọng trở lại vườn Thúy
Đoạn trích "Mã Giám Sinh mua Kiều " là đoạn mở đầu trong đoạn đời 15 năm trời lưu lạc đau khổ của nàng Kiều. Đoạn thơ dài 34 câu, từ câu 619 đến câu 652 trong "Truyện Kiều ”.
Đoạn thơ làm sống lại một cảnh mua bán người thời trung cổ, thể hiện bút pháp nghệ thuật tự sự và tả người của thi hào Nguyễn Du
Bố cục của bản Tuyên ngôn Độc lập phục vụ cho nhiệm vụ chung của toàn tác phẩm. Toàn văn bản có thể chia thành 3 đoạn:
- Đoạn 1 (từ đầu đến "Đó là nhưng lẽ phải không ai chối cãi được"): Trích dẫn hai bản tuyên ngôn nổi tiếng thế giới là Tuyển ngôn Độc lập của Mĩ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791
Tuyên ngôn Độc lập ra đời vào thời điểm trọng đại, chấm dứt ách thông trị gần 100 năm của thực dân Pháp và thay thế vĩnh viễn nền quân chủ bằng nền dân chủ. Xét về mọi khía cạnh, Tuyên ngôn Độc lập xứng đáng là bản tuyên ngôn có giá trị muôn đời của dân tộc Việt Nam.
Bản Tuyên ngôn Độc lập có sức lay động sâu sắc hàng chục triệu trái tim người Việt Nam từ khi ra đời đến nay vì 3 lí do chính: a. Vì đây là một văn kiện lịch sử đánh dấu một thời điểm, một móc son lịch sử nước Việt Nam sang một trang mới, mở ra một thời đại mới - thời đại độc lập, tự do - người dân được làm chủ đất nước, làm chủ cuộc sống của mình.
a.Bản Tuyên ngôn Độc lập ngắn gọn, súc tích: Nội dung của văn bản bao gồm nhiều vấn đề lớn lao (nguyên lí thời đại, tội ác thực dân Pháp đối với dân tộc Việt Nam, chiến công của dân tộc Việt Nam trong Cách mạng tháng Tám 1945, lời tuyên bố về quyền và sự thật nước Việt Nam, dân tộc được hưởng độc lập, tự do... thái độ, tình cảm của Hồ Chí Minh
1. Bố cục
Tác phẩm gồm ba phần:
a. Đặt vấn đề (từ đầu đến không ai chối cãi được): Nêu nguyên lí chung có tính phổ quát, đồng thời nhấn mạnh mục đích, lí tưởng chiến đấu của dân tộc ta trong thời đại ngày nay: "Tất cả các dân tộc trên thế giới... quyền tự do".
- Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Cùng với sự sụp đổ của chủ nghĩa phát xít một trào lưu đấu tranh đòi độc lập dâng cao, sôi nổi trên thế giới, trước hết là hệ thông các nước bị thực dân, phát xít chiếm đóng ở châu Á, châu Phi...
- Trên toàn lãnh thổ Việt Nam, nhân dân ta vùng lên chiến đấu chống phát xít Nhật, thực dân Pháp và phong kiến
Tình cha con (và cả tình mẹ con) là nhân tố hàng đầu làm nên tính truyền thống và sức mạnh các gia đình Việt Nam. Có người cho rằng đạo lí dân tộc và ảnh hưởng của đạo Nho đã góp phần xây dựng nên tính truyền thống và sức mạnh ấy.
Tình cảm gia đình là một trong những tình cảm tốt đẹp của con người. Từ xưa đến nay, gia đình có một vị trí cực kì quan trọng trong xã hội Việt Nam. Gia đình là cái nôi, là tế bào của xã hội. Từ con người gia đình mà trở thành con người xã hội, người công dân đất nước.
Cuộc đời của mỗi người dài hay ngắn? Hành trang, hành lí của mỗi người cần mang theo trên đường đời là gì? Mỗi người sẽ tuỳ cảnh ngộ, tuỳ khả năng, tuỳ quan niệm mà có cách ứng xử, hành động không giống nhau.
Không thể sống biệt lập, tự khép kín giữa cộng đồng. Con người Việt Nam chúng ta, ai cũng vậy, ngoài tình gia đình, nội tộc còn có tình láng giềng, tình làng xã, tình đồng bào, tình dân tộc. Ai cũng cảm thấy, cảm biết sự quan tâm tới mọi người, sự giúp đỡ mọi người là nghĩa vụ, là niềm vui hạnh phúc.