CÁC Ý CHÍNH
Mị bị trói, bắt được A Phủ về, Mị được thả trói để chăm sóc vết thương cho A Sử. Nay A Phủ bị trói bị bỏ đói khát, lạnh... Còn Mị, ra sưởi ấm ở bếp lửa cũng đã bị A Sử đánh ngã xuống cửa bếp. Nghĩa là bất công, tàn bạo gần như đã lên tới đỉnh điểm ở hai số phận con người.
1. Kể:
Ai ở xa về, có việc qua nhà thống lí Pá Tra, thường thấy có một cô gái lúc nào cũng cúi xuống, gương mặt buồn rười rượi ngồi quay sợi gai bên tảng đá cạnh tàu ngựa trước cửa. Người ta bảo Pá Tra làm thống lí ăn của dân nhiều, lại nhận muối đồn Tây về bán, nhà giàu nhất trong làng,
“Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn trong tập “Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài, được giải nhất tiểu thuyết, giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1954 - 1955.
Câu chuyên về Mị được bắt đầu từ một hình ảnh rất giàu sức gợi: “Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra, thường trông thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa.
Đất nước Ấn Độ - ai mà không nghe, không biết dù chỉ một lần về xứ sở linh thiêng đầy huyền bí ấy. Mỗi chúng ta, ai đã từng thưởng thức những cuốn phim Ấn Độ? Có lẽ khi xem bộ phim “Truyền thuyết tình yêu” chúng ta sẽ thấy được xứ sở lạ lùng ấy
(...) Ở câu thứ nhất của đoạn trích ta gặp một sự khẳng định có tính chất mở đựờng cho cách lập luận và tạo ra cảm xúc của bài thơ: đời anh là một trái tim. ở các dòng thơ thứ 5, 8, 11, 14 các cụm từ nếu trái tim anh được lặp lại nhiều lần.
Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ là một thành công lớn của Tô Hoài viết về đề tài miền núi. Mị là nhân vật trung tâm của Vợ chồng A Phủ được Tô Hoài viết năm 1953, sau đợt thâm nhập thực tế ở Tây Bắc năm 1952. Từ cuộc đời của nhân vật Mị, nhà văn đã phản ánh được cuộc sống khổ đau, tủi nhục của người phụ nữ miền núi và sức sống tiềm tàng của họ dưới chế độ thực dân phong kiến.
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Trong Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài đã thể hiện một trình độ điêu luyện về nghệ thuật miêu tả và dựng truyện. Có thể nhận diện được thành công này qua một số khía cạnh sau:
- Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên: hình ảnh thiên nhiên miền núi Tây Bắc rất đặc trưng, sống động, có hồn
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Tiếng sáo là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong tác trong tác phẩm. Có thể bình luận về các ý nghĩa sau:
- Tăng giá trị tạo hình và gợi cảm cho nghệ thuật miêu tả (tiếng sáo có nhiều cung bậc, sắc thái thẩm mĩ: khi xa, khi gần, khi hư, khi thực, khi “lấp ló”, khi “thiết tha bổi hổi”, khi “lửng lơ”, khi “rập rờn”).
I. MỞ BÀI
Honoré de Balzac là nhà văn hiện thực lớn của Pháp, được xưng tụng là “bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực” (F. Engels) và đã để lại một công trình văn học đồ sộ: bộ tấn trò đời với 97 quyển tiểu thuyết
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài được thể hiện qua:
- Bênh vực con người: hình thức bênh vực con người ở đây là tạo nên sức mạnh tố cáo sự tàn nhẫn, bất nhân của tầng lớp thống trị mà đại diện là gia đình thống lí Pá Tra
Victor Hugo là một nhà văn lớn của nước Pháp và của nhân loại tiến bộ. Ông sống gần suốt thế kỉ XIX, thế kỉ nhân dân Pháp luôn luôn nổi dậy làm cách mạng, chống cường quyền, đòi tự do, dân chủ. Victor Hugo chiến đấu không mệt mỏi cho hạnh phúc loài người.
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
* Điểm chung ở 2 tác phẩm:
- Cả 2 tác phẩm đều là những sáng tác thuộc giai đoạn văn học cách mạng 1945 - 1975
- Nhân vật chính trong tác phẩm đều là những người lao động có cuộc sống bất hạnh, khổ đau nhưng ở họ đều có những vẻ đẹp trong tâm hồn
- Bài thơ được sắp xếp liền mạch 8 dòng, không chia thành các khổ thơ. Toàn bài thơ gồm hai câu lớn, mỗi câu 4 dòng thơ, gần như gồm hai đoạn. Mỗi đoạn đều bắt đầu băng cụm từ Tôi yêu em, và làm cho ý thơ như ào ạt trào lên, con sóng sau to hơn con sóng trước.
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
1. Tình cảnh cả Mị bị bắt làm dâu trừ nợ:
- Do bố Mị mắc nợ của nhà giàu, Mị bị thống lí Pá Tra bắt làm con dâu gạt nợ.
- Khi bị trở thành cô con dâu gạt nợ, cuộc sống địa ngục của nhà tên chúa đất Pá Tra đã biến cô từ một cô gái hồn nhiên với bao ước mơ thành một nô lệ, lẫm lũi, cam chịu, thành một con vật trong nhà thống lí
Vừa gặp Rô-mê-ô tại buổi dạ hội, bây giờ về phòng, đứng bên cửa sổ nhìn ra vườn trong đêm thánh vắng, tưởng không có ai, nàng đã thốt lên thành tiếng nỗi niềm riêng (nghĩ là chỉ vừa đủ tai mình nghe, nhưng Rô-mê-ô nghe thấy, và do tính ước lệ của sân khấu nên khán giả cũng nghe được)