“Ông có giúp tôi không?” (đó là nhan đề câu chuyên, cũng là câu duy nhất mà người cha ấy nói khi mọi người cố ngăn ông lục lọi đống gạch vụn đổ vỡ của ngôi trường sau trận động đất. Người cha ấy đã xác định một mục tiêu duy nhất: tìm, tìm và tìm để biết chính xác: “Con tôi sống hay đã chết?”
CÁC Ý CHÍNH
a. Khẳng định nỗi nhớ của người ra đi:
“Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiều nước, nghĩa tình bấy nhiêu...”
- Qua cặp đại từ “mình - ta”, người kháng chiến về xuôi khẳng định nỗi nhớ về Việt Bắc giống như nỗi nhớ của đôi lứa yêu nhau.
1. Cả nước lại thắc thỏm hướng về miền Trung. Nơi một lần nữa, bão lũ lại phủ lên màu tang tóc. Từng người, từng người trở về từ biển cả, trong hi vọng của người này, trong vô vọng của người khác, qua từng ngày mỏi mòn chờ đợi.
Tôi chẳng bao giờ nghĩ mình là Lá! Bởi là Lá, hoặc sẽ phải bám níu vào Cây, hoặc phải nương mình theo Gió. Dù là có thể được lựa chọn, nhưng vẫn chỉ là sự lựa chọn giữa những phương án phụ thuộc khác nhau. Không như thế này thì là thế kia.
HƯỚNG DẪN
Đại từ xưng hô mình - ta hay được dùng trong những lời tâm tình của người Việt. Có khi “mình” để chỉ ngôi thứ nhất (“Giật mình mình lại thương mình xót xa” - Truyện Kiều), có khi để chỉ ngôi thứ hai, chỉ một người nào đó (“Mình về có nhớ ta chăng - Ta về ta nhớ hàm răng mình cười” - Ca dao).
Có bao giờ bạn thử ghi lại vài lỗi lầm của mình, chẳng hạn cố tình quên trả tiền người bạn, đi phôtô tài liệu cho lớp và bỏ túi tiền thừa. Những việc cỏn con đó mang tên vụ lợi đang chậm rãi chui ra từ những ý nghĩ tưởng chừng bình thường
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
1. Yêu cầu chung
- Học sinh biết cách làm bài nghị luận văn học về một đoạn thơ; bố cục rõ ràng, chặt chẽ; diễn đạt lưu loát, không mắc các lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
- Làm rõ vẻ đẹp của miền đất Việt Bắc được thể hiện trong đoạn thơ.
1. Không ai dám chắc mình sẽ trung thực đến suốt cuộc đời, nhưng chúng ta hãy cố gắng hạn chế số lần không trung thực đến mức thấp nhất. Vì nếu không trung thực, bạn có thể đánh mất tình bạn, đánh mất niềm tin và có khi bạn tự lừa dối với chính bản thân mình.
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
1. Giới thiệu Tố Hữu và bài thơ “Việt Bắc”
2. Cảm nhận về đoạn thơ
- Đoạn thơ diễn tả nỗi nhớ Việt Bắc của người cán bộ về xuôi: nhớ Việt Bắc là nhớ “những hoa cùng người”, nhớ vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc.
Mỗi con người là một tiểu vũ trụ, với vô số tế bào ngang với số lượng muôn vì tinh tú trong vũ trụ bao la ngoài kia. Và thật không có gì lạ khi ta chẳng thể hiểu nổi chính ta. Và lại càng dễ hiểu khi bạn bè không dễ hiểu ta.
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm và hoàn cảnh sáng tác: Tố Hữu là một nhà thơ lớn của chúng ta ở thế kỉ XX.
“Việt Bắc” được viết nhân sự kiện lịch sử: sau chiến thắng Điện Biên Phủ (1954), Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu về lại Thủ đô Hà Nội.
Số là thứ bảy vừa qua thầy cho chúng tôi một đề tập làm văn vói điều kiện là bài này sẽ do tự chúng tôi làm lấy một cách độc lập. Đã một tiếng đồng hồ trôi qua thế mà giấy trắng vẫn hoàn giấy trắng. Không vặn ra được chữ nào cho nó hay ho, tôi cố đọc, đọc từ từ và ngẫm nghĩ thế mà vẫn chưa tìm được cái ý.
CÁC Ý CHÍNH
* Nội dung: Mượn lời đáp trả của người ra đi với người ở lại, nhà thơ Tố Hữu bộc lộ tình cảm nhớ nhung sâu sắc về thiên nhiên và nhân dân Việt Bắc.
а. Hai câu đầu thể hiện cảm xúc chủ đạo của đoạn thơ:
“Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người”
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
1. Yêu cầu về kĩ năng
- HS biết cách phân tích một đoạn thơ trữ tình.
- Kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ ràng, diễn đạt tốt, không mắc lỗi dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
2. Yêu cầu về kiến thức: Trên cơ sở hiểu biết về nhà thơ Tố Hữu và hoàn cảnh sáng tác của bài Việt Bắc
Ca dao, tục ngữ được hình thành trong dân gian qua nhiều thế hệ nhằm truyền dạy cho nhau hoặc cho đời sau những đạo lí, những kinh nghiệm sống để thích nghi với thiên nhiên, hòa hợp với xã hội, để đối nhân xử thế. “Ăn cỗ đi trước - lội nước theo sau” cũng nhằm mục đích ấy